Ai có nhu cầu tên miền liên hệ email

Ai có nhu cầu tên miền liên hệ email
kimtinh1982@gmail.com

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2008

THÔNG TIN VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG

Thực phẩm chức năng giúp nâng cao hệ miễn dịch

GS.TSKH Hoàng Tích Huyền cho biết sử dụng thuốc trong điều trị bệnh lao chỉ có tác dụng trước mắt. Điều quan trọng lâu dài là nếu không nâng cao hệ miễn dịch thì nguy cơ tái mắc bệnh rất cao dẫn tới việc điều trị khó khăn hơn.

Nâng cao hệ miễn dịch sẽ giúp cơ thể bệnh nhân tự sản sinh ra kháng thể chống lại vi trùng lao. Nhờ đó giúp bệnh nhân mau hồi phục sức khoẻ và có khả năng tự phòng chống được bệnh.

Tại hội thảo các bác sĩ giới thiệu Delta-Immune là phát minh khoa học, sản phẩm được tách ra từ màng tế bào của sữa chua với tác dụng nâng cao hệ miễn dịch cho con người.

Công trình do các nhà bác học Nga nghiên cứu thành công vào những năm 80 của thế kỷ 20 và được các nhà khoa học Mỹ phát triển rồi đưa vào sử dụng trong việc nâng cao hệ miễn dịch, phòng và hỗ trợ điều trị bệnh.

Hiện nay, sản phẩm này đang được sản xuất tại Việt Nam và được kết hợp thành công với các thảo dược thiên nhiên sẵn có của Việt Nam. Sản phẩm này được khuyến cáo là nên dùng đối với các bệnh nhân lao và một số bệnh mãn tính khác như viêm gan mãn tính, hỗ trợ ung thư, viêm đường hô hấp, bệnh đường tiêu hoá.

Thực phẩm chức năng - Thức ăn của con người trong thế kỷ 21

Thực phẩm chức năng - Xu hướng của thế giới hiện đại

Những năm gần đây, nhờ những thành tựu mới của công nghệ sinh học (CNSH), một số nước đã tạo ra được các loại thực phẩm thuốc (alicaments) hay còn gọi là thực phẩm chức năng (functional food). Các nước Tây âu gọi đây là dược phẩm dinh dưỡng (nutraceutics) hay thực phẩm bổ sung dinh dưỡng (food suplement ), còn Trung Quốc gọi là thực phẩm bổ dưỡng bảo vệ sức khoẻ. Các loại thực phẩm này nằm ở ranh giới giữa thức ăn và thuốc chữa bệnh. Theo dự báo của các chuyên gia, thì “thức ăn của con người trong thế kỷ XXI là thực phẩm chức năng”. Thức ăn không chỉ đảm bảo đủ calo, ngon, sạch, mà còn phải chứa các hoạt chất sinh học (HCSH) tự nhiên cần cho sức khoẻ và sắc đẹp, không chỉ điều khiển được các hoạt động chức năng của từng bộ phận trong cơ thể, tạo cho con người khả năng miễn dịch cao, chống sự lão hoá, tăng tuổi thọ, mà còn giúp con người phòng chống được một số bệnh, kể cả ung thư.

Công ty Sakyo - Nhật Bản đã đưa ra thị trường loại thức ăn “làm đẹp” (cosmetic food) và nhiều sản phẩm kỳ diệu khác như: Đồ uống có ga cho người có quá nhiều axit và huyết áp cao; chế phẩm từ vây cá mập làm tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể; chế phẩm từ thịt rùa có khả năng chống tai biến mạch máu não. Một số thực phẩm “thông minh” đã xuất hiện ở châu âu có chứa các HCSH cần cho hoạt động của cấu trúc não bộ. Các chế phẩm chống ôxy hoá, chống lão hoá khá phong phú, được bào chế từ các HCSH như selen hữu cơ, carotenoid, các vitamin A, C, E, alinxin, zingerol... và các tiền hormone steroid (từ động vật) có tác dụng khử các gốc tự do, kích hoạt các enzym kháng ôxy hoá trong cơ thể... Trên thị trường của chúng ta đã có không ít loại thực phẩm chức năng của Trung Quốc như: Hải văn huyết nguyên (chế biến từ con ốc vằn), Tinh hoa khẩu phục dịch (dung dịch uống từ hoạt chất có cấu trúc phân tử 1-6 fructose diphotphat), Dung dịch cường lực sĩ (thuốc bổ thận), Viên nang ngự lộc tinh (từ máu hươu + giao cổ lan + phục linh), chế phẩm Khang Thai (sản phẩm hợp tác Mỹ - Trung Quốc dùng cho vận động viên - VĐV)... Ngoài ra còn xuất hiện một số loại thực phẩm chức năng được nhập từ Pháp và Hàn Quốc như Ribozinc, Stimol, Belaf... cung cấp cho cơ thể các nguồn bổ sung vitamin, khoáng chất.

Các nước phát triển có xu hướng ưa chuộng các thực phẩm chức năng hơn là dùng thuốc, theo quan điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh. Chính vì vậy, đa số các tập đoàn sản xuất thuốc đang chuyển sang sản xuất thực phẩm chức năng và tìm được đối tượng tiêu thụ lớn hơn. Các chuyên gia kinh tế đã tính toán rằng, doanh thu hàng năm của các loại thực phẩm chức năng đã vượt con số 100 tỷ USD. Tại các nước trong khu vực, việc ứng dụng CNSH trong sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng đang được quan tâm đặc biệt. Malaysia đã xây dựng Viện CNSH Dược phẩm nằm trong “Thung lũng CNSH - Bio Valley”; Trung Quốc xây dựng “Thung lũng thuốc” lớn nhất thế giới để sản xuất dược phẩm và là nước có nhiều thành công trong việc nâng cấp công nghệ y dược cổ truyền thành công nghệ cao.

Những thành tựu của công nghệ enzym - một mũi nhọn của CNSH trong việc tạo ra các peptid có chuỗi ngắn, trọng lượng phân tử thấp và có hoạt tính sinh lý, đang mở ra triển vọng mới đóng góp cho sự phát triển của công nghiệp chế biến thực phẩm chức năng theo hướng điều khiển các hệ enzym trong cơ thể. Thí dụ, các dipeptid có tác dụng chống tăng huyết áp, tetrapeptid chống thụ thai, heptapeptid ức chế hình thành di căn, hexa-decapeptid kích thích tăng miễn dịch... Chế phẩm dipeptid (Ile-Tyr) - ức chế ACE (enzym chuyển hoá antegiotensin) tách chiết từ thịt của cá cơm, cá mòi có thể giúp ngư dân, hải quân, thợ lặn làm việc lâu dưới biển vào mùa đông mà vẫn ấm người và không tăng huyết áp. Có thể dự báo rằng, trong tương lai các loại thực phẩm phân tử sẽ thịnh hành. Nó được điều chế từ nhiều chất dinh dưỡng giàu HCSH và các phân tử có hoạt tính, giúp phòng ngừa nhiều bệnh tật, khiến cơ thể vận hành lành mạnh theo đúng thuyết về gen và di truyền.

Tóm lại, nhiều phụ gia có HCSH từ động vật, cây cỏ, vi sinh vật... được đưa vào thành phần thực phẩm chức năng, lại có thể điều khiển được chức năng của từng bộ phận trong cơ thể và phòng chống một số bệnh, kể cả bệnh hiểm nghèo (tăng tạo máu, tăng trí nhớ, tăng hoạt động cơ bắp, tăng miễn dịch, chống lão hoá, chống “bất lực”, chống thụ thai, cai nghiện, chống di căn, phòng ngừa ung thư...). Có thể khẳng định rằng, ngày nay các chất dinh dưỡng chính (đạm, đường, béo...) lại trở thành vai trò phụ, còn các HCSH đưa vào thực phẩm lại trở thành chính yếu. Thức ăn mới này chính là các loại thực phẩm chức năng, sẽ góp phần cụ thể hoá một nguyện vọng xa xưa của loài người trên trái đất: Thức ăn của chúng ta sẽ là những vị thuốc của chúng ta!

Thực phẩm chức năng của Việt Nam - Thành công bước đầu và triển vọng

Đối với nước ta hiện nay, việc nghiên cứu tạo ra các chế phẩm thực phẩm chức năng với phương châm “công nghệ cao, bản sắc cổ truyền” đang là hướng nghiên cứu rất lý thú và có lợi thế, vì lẽ chúng ta có thế mạnh về tài nguyên sinh học nhiệt đới và có kho tàng kinh nghiệm phong phú của y học dân tộc. Từ việc sử dụng bột cóc làm thuốc chống bệnh còi xương cho trẻ em, việc sử dụng côn trùng và các động vật rừng với mục đích bổ dưỡng và làm thuốc chữa bệnh, đến việc sử dụng nhiều loại sản phẩm biển có giá trị dinh dưỡng cao, dược liệu quý có tác dụng “hồi xuân cường lực, cải lão hoàn đồng” như “nhất yến sào, nhì bào ngư”, món ăn “Bát trân” gồm 8 loại hải sản quý phục vụ các bữa yến tiệc trong cung đình khi xưa... Kho tàng kinh nghiệm này không ngừng được bổ sung từ thế hệ này qua thế hệ khác trong quá trình lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên và đang được y sinh học hiện đại soi sáng, chứng minh.

Gần đây, một số thực phẩm chức năng do Việt Nam sản xuất trên cơ sở ứng dụng CNSH để nâng cấp công nghệ cổ truyền, đã được đưa ra thị trường nhằm phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Đó là Pantocrin từ nhung hươu sao Việt Nam, rượu Tam xà, rượu Tắc kè, rượu Hải sâm... Trong đó, rượu bổ Tam xà (kích thích tiêu hoá, tuần hoàn, bổ dương, trị thấp khớp) được sản xuất bằng công nghệ enzym, chất lượng cao, được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa thích. Sản phẩm đã được nhận Huy chương vàng tại Hội chợ Triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật tại Hà Nội, năm 1995. Những năm gần đây, một số sản phẩm từ tài nguyên sinh vật rừng và biển đã được sản xuất dưới dạng viên nang, viên nén, dung dịch uống... trên dây chuyền hiện đại tại nhiều xí nghiệp dược phẩm trong nước. Các sản phẩm này là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của các chương trình khoa học và công nghệ do các viện nghiên cứu, các trường đại học trong nước tiến hành. Đó là các chế phẩm nhuận gan, lợi mật, tạo máu, dưỡng não, sáng mắt, tăng cường sinh lực (cho VĐV, lực lượng vũ trang và người lao động), phòng chống ung thư... đang được người tiêu dùng ưa thích. Các sản phẩm này hoàn toàn có thể thay thế hàng ngoại nhập.

Trong thể thao, việc sử dụng các kích tố hoá học tổng hợp đều bị cấm nghiêm ngặt. Việc nghiên cứu, tìm kiếm, khai thác các nguồn HCSH với mục đích tăng cường thể lực cho VĐV đang trở thành một cuộc ganh đua thầm lặng và mang tính bí mật giữa các quốc gia, thậm chí giữa các tỉnh, thành trong một quốc gia.

Điều này là dễ hiểu vì nó có liên quan đến số lượng huy chương giành được. Những năm qua, chúng tôi “đã tiến quân ra biển” để tìm kiếm các nguồn HCSH tự nhiên. Dưới sự chỉ đạo của Giáo sư, Viện sỹ Đặng Vũ Minh, phòng thí nghiệm của chúng tôi đã tham gia một chương trình nghiên cứu về HCSH biển và đã có được một số kết quả bước đầu rất đáng khích lệ. Trong chương trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phân tich sinh hoá 4 loài hải sâm ăn được (Holothuria scabra, Actynopyga echinites, Pachithyon rubra, Bahachia graeffei); 4 loài rắn biển ăn được (Lapemis hardwwickii Gray, Hydrophys cyanocintus, Microcephalophys gracillis, Praescula viperina) và loài cầu gai (Echinoidea)... Chúng tôi đã phát hiện được một số HCSH quan trọng có trong thịt của chúng, mà chưa thấy có tài liệu nào công bố: Các hormone steroid, glucozit triterpen, carotenoid, neuropeptid, các axit amin không thay thế được, các nguyên tố vi lượng có hoạt tính sinh lý (Fe, Zn, Cu, Se...). Các phát hiện mới này đã tạo cơ sở khoa học soi sáng cho kinh nghiệm y học cổ truyền và vấn đề quan trọng là đã dẫn chúng tôi đến các giải pháp công nghệ để sản xuất được một số chế phẩm thực phẩm chức năng phục vụ tăng cường sức khoẻ cho VĐV, lực lượng vũ trang và người lao động. Đó là các chế phẩm viên nang Hải sâm (từ hải sâm), Rabiton và Rabitam (từ rắn biển), Hagaton (từ hải long, cầu gai). Công nghệ sản xuất các chế phẩm này đều được tiến hành trên dây chuyền hiện đại của các công ty, xí nghiệp dược như: Xí nghiệp dược Trung ương 25, Công ty Cổ phần Dược Traphaco, và đã đăng ký chất lượng hàng hoá tại Cục Vệ sinh An toàn Thực phẩm, được Bộ Y tế cấp giấy phép sản xuất, lưu hành trong toàn quốc. Tác dụng y sinh học của các chế phẩm đã được nghiên cứu kỹ trong các mô hình thực nghiệm trên động vật, nghiên cứu trên lâm sàng tại Bệnh viện Bạch Mai và cuối cùng là ứng dụng trên VĐV.

Kết quả cho thấy: Với liều 600 mg/ngày/người (chế phẩm hải sâm, rắn biển) đã giúp phục hồi, thậm chí phục hồi vượt mức hàng loạt chỉ tiêu sinh lý, nâng cao thể lực và thành tích của tất cả các VĐV trong thực nghiệm. Các chế phẩm này đã góp phần cải thiện tốt các chỉ tiêu tâm lý, hoạt động thần kinh, giúp các VĐV xử lý tốt các tình huống (100% VĐV không mắc lỗi tín hiệu điện tử), các chỉ tiêu thể lực tốt hơn và trong tập luyện đều đạt thành tích cao hơn so với đối chứng. Mới đây, trong một số công trình khoa học (của một nhóm nghiên cứu tiến hành trên 30 học sinh và 30 VĐV, và của 2 luận án Tiến sỹ) đã công bố những phát hiện bổ sung thêm về tác dụng của các chế phẩm hải sâm, Rabiton. Đó là các tác dụng dương tính lên hoạt động chức năng của trung ương thần kinh và tác dụng giải độc của chế phẩm viên nang hải sâm trong trường hợp cơ thể bị nhiễm độc thuốc trừ sâu - Fenobucarb, thuộc nhóm Carbamat đang dùng ở Việt Nam.

Thế giới hiện đại đang có xu hướng quay về với các hợp chất thiên nhiên có trong động vật và cây cỏ, khai thác kinh nghiệm y học cổ truyền và nền văn minh ẩm thực của các dân tộc phương Đông, hạn chế tối đa việc đưa các hoá chất vào cơ thể - thủ phạm của các phản ứng phụ, quen thuốc, nhờn thuốc (hiện nay, 90-95% số nhóm chất quan trọng như kháng sinh, các loại vitamin, các nội tiết tố... có nguồn gốc hoá học tổng hợp). Xu thế này cùng với những thành công bước đầu đã đạt được và những tiềm năng to lớn của chúng ta về tài nguyên sinh học, đó là những cơ sở quan trọng để chúng ta đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất các loại thực phẩm chức năng - một lĩnh vực có nhiều triển vọng.

Chuyện của người mẫu nude

Chuyện của người mẫu nude

Chị bước tới chiếc ghế đặt giữa phòng, lặng lẽ cởi váy, ngồi hơi khép chân, hai tay đan vào nhau qua đầu... Đối diện với cơ thể không chút che đậy ấy là chừng hơn chục sinh viên, cả nam lẫn nữ, đang lấp ló sau những giá vẽ.

Sau gần 20 năm trong nghề, chị Mai - một người mẫu khỏa thân - mới thản nhiên được đến thế trong công việc thường ngày của mình.

Mai là một trong những người kiếm sống bằng nghề làm mẫu nude cho sinh viên mỹ thuật - một nghề mà theo lời chị là "không làm gì sai trái nhưng chưa bao giờ dám thú thật với người thân". Năm nay, chị ngoài 50 tuổi và đã có gần 20 năm làm mẫu vẽ. Đi bộ đội về, không kiếm được việc làm thích hợp, chị đến với nghề nhờ sự giới thiệu của một người giảng dạy trong trường mỹ thuật.

Không cần một dáng người quá chuẩn hay gương mặt đẹp, thử thách lớn nhất của Mai và các đồng nghiệp là dám cởi xiêm y trước hàng chục cặp mắt và vượt qua được những dị nghị của người đời.

Thế nhưng, dù đã được đảm bảo không lộ tên thật, trong câu chuyện với phóng viên, những người mẫu nude vẫn dặt dè, lắm lúc thoái thác bằng ánh mắt nghi ngại, đề phòng. Chị Mai giải thích: "Mẫu chúng tôi hầu hết đều đã có gia đình, nhưng thường phải giấu chồng, giấu con. Chẳng có ông chồng nào chịu để vợ khoe thân trước mặt người khác, dù biết mười mươi là chúng tôi không làm gì bậy bạ. Nếu ai đó có chồng hay người thân biết được, chắc cũng vì bất đắc dĩ mà ‘bị lộ’ thôi".

Mẫu nude và những bức tranh đang dần hình thành. Ảnh: M.V.

Quế là một trong những mẫu nude rơi vào cảnh "giấu chồng không nổi". Khi đến phòng trọ nhỏ của chị trong một con ngõ sâu trên phố Nguyên Hồng (Hà Nội), Quế đang chuẩn bị hành lý để về quê. Chị người Hải Dương, vốn làm nghề thu mua đồng nát. Ra Hà Nội, chị thuê phòng ở chung với một người bạn khác, cũng là dân lao động. Quế rất ngạc nhiên khi thấy chị bạn quanh năm đi làm chỉ tay không ra khỏi nhà. Một thời gian, hai người thân thiết hơn, người bạn cùng phòng mới rủ Quế cùng làm mẫu nude như mình. Mới được ba tháng, Quế bị chồng phát hiện sau khi một sinh viên cùng làng, học trường mỹ thuật vô tình nhìn thấy chị đứng làm mẫu. Khi được hỏi: “Chồng chị phản ứng thế nào khi biết chuyện?”, Quế gay gắt, bằng chất giọng đặc trưng của quê mình: "Phản ứng cái gì? ‘Nàm’ mẫu ‘luy’ thì có gì là xấu?". Nhưng rồi chị hạ giọng: "Nói đi cũng phải nói lại. Người ta giàu, nói có gang có thép, nhà em nghèo, cũng có cái khó. Ông ấy lên tận đây, đến xem em làm việc hai hôm liền, hai bữa đó em không phải ‘cởi toàn bộ’, nên ông ấy bớt giận đi một chút. Đợt này hè, sinh viên nghỉ học, em về quê nhưng chắc không được lên làm nữa đâu".







Kiên quyết phản đối.

Không ngăn cấm nhưng cũng không khuyến khích.

Không vấn đề gì, đó là một nghề kiếm sống.

Rất ủng hộ, đây là công việc phục vụ nghệ thuật.








Cũng vì tâm lý tự ti nên mới có những chuyện cười ra nước mắt trong nghề làm mẫu nude. Mạnh Cường, sinh viên lớp A2, Cao đẳng Mỹ thuật Công nghiệp, kể: "Trường em có một ông người mẫu, tầm tuổi trung niên. Bao giờ đi làm cũng sơ mi trắng cắm thùng, đeo cà vạt, xách ca táp, đi giày da bóng lộn. Hồi đầu, bọn em tưởng là thày giáo. Chắc phải có hoàn cảnh nhất định, người ta mới phải làm như thế".

Những người lớn tuổi, đặc biệt là các mẫu nam, thường có tâm thế bình thản hơn. Hơn 60 tuổi, nhưng ông Vĩnh mới chỉ làm mẫu vài ba năm nay. Ông kể: "Sá gì cô, tôi coi mấy đứa sinh viên như con cháu trong nhà. Ngày hè, mấy ông già chúng tôi còn trần truồng rủ nhau ra bãi sông Hồng tắm. Đứng làm mẫu thế này, vừa giúp được các cháu vẽ, vừa có đồng ra đồng vào chẳng hay sao". Ông đến với nghề mẫu cũng nhờ những câu chuyện phiếm của mấy người bạn từ dạo "tắm tiên".

Học viên vẽ nude trong một lớp cao học tại Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Ảnh: T.H.

Không chỉ điều tiếng dị nghị, nghề mẫu nude cũng có những đòi hỏi riêng. Ai trong nghề, sau khi đã chiến thắng tâm lý ngại ngùng đều từng trải qua trạng thái mỏi, lạnh và buồn ngủ.

Quế kể: "Hồi đầu, khi đã 'cởi tất', mỗi khi thấy sinh viên thầm thì hay nhỏ to cười với nhau là em lại nổi hết da gà. Dù thực sự, các em ấy chỉ trao đổi về hình vẽ và nói chuyện riêng chứ không bình luận gì về mình. Mỗi bận đi làm về, em nằm vật ra giường, không muốn cử động nữa vì toàn thân mỏi nhừ. Ngồi nguyên một tư thế trong suốt hàng giờ không phải là chuyện dễ dàng".

Vào mùa đông, việc để trần trụi da thịt giữa tiết trời lạnh giá là cực hình với người mẫu. Hiện nay, các trường đại học đã trang bị một hoặc hai lò sưởi cho mẫu, nhưng vẫn rét, vì theo lời chị Mai: "Có những tư thế, ví dụ như đứng, thì lò sưởi không thể ấm hết toàn thân được”. Nam Ngọc, sinh viên năm thứ ba Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp nói: "Có những hôm rét quá, em thấy cánh tay người mẫu phía bên lò sưởi thì ửng đỏ lên, còn bên kia không có lò sưởi thì tím tái lại".

Mùa đông lạnh, còn mùa hè thì buồn ngủ. Giữa không gian yên ắng, chỉ có tiếng cọ vẽ và đôi lời thì thầm nhỏ to của đám sinh viên, lại phải ngồi một chỗ, hạn chế cử động, những mẫu nude bị cơn buồn ngủ dụ dỗ mọi lúc. Hơn nữa, vào những ngày cao điểm, họ vừa làm mẫu cho các lò luyện thi vừa làm việc ở trường, nên thiếu ngủ do “chạy sô” là chuyện thường tình. Mạnh Cường kể: "Nhiều hôm, đang mải mê vẽ, lúc ngẩng lên thấy cô mẫu gật gật mấy cái. Tay đang vắt lên vai đã được thả tự do. Những lúc đó, mấy bạn nữ phải đến đánh thức cô dậy, sửa lại tư thế rồi vẽ tiếp".

Mùa đông, mẫu được trang bị một chiếc lò sưởi.
Mùa đông, mẫu được trang bị một chiếc lò sưởi. Ảnh: M.C.

Ngoài khó khăn và định kiến, công sá cho việc cởi áo khoe cơ thể cũng là điều khiến nhiều người mẫu nude nản lòng. Hiện tại, mỗi mẫu được trả công khoảng 100.000 đồng cho một buổi (4 tiết, mỗi tiết 45 phút). Chị Mai nói: "Nếu như ngày nào cũng có việc, thì thu nhập như thế cũng là không nhỏ. Nhưng nhà trường đâu phải hôm nào cũng học đâu, hơn nữa, có phải mẫu nào cũng được yêu cầu 30 ngày một tháng đâu. Chúng tôi phải ‘đi ngồi’ tại các lò luyện thi nhưng vẫn không dư dả gì. Nhưng thời buổi khan hiếm công việc, cái nghề của mình 'mưa không tới mặt nắng không đến đầu', tôi nghĩ thế mà cố chịu".

Đại học Mỹ thuật hiện có khoảng 20 mẫu cả nam lẫn nữ. Giờ giấc làm việc của họ phụ thuộc vào sự sắp xếp của phòng Đào tạo hoặc theo yêu cầu của sinh viên. Tuy đòi hỏi đối với mẫu nude dành cho sinh viên học vẽ không quá khắt khe, nhưng cũng có những người ế việc dài dài. Mạnh Cường giải thích: “Mẫu không cần hình thể quá chuẩn, nhưng cũng có những người béo quá, chân tay tròn lẳn, rất khó lên bóng trong khi vẽ; hoặc có những người gầy quá, không có khối đẹp nên sinh viên rất khó thể hiện".

Mặc cảm, thu nhập hạn chế, người mẫu nude còn nơm nớp sợ bị phát tán ảnh thiếu vải lên mạng. Tất cả các trường mỹ thuật đều nghiêm cấm học sinh chụp ảnh mẫu trong quá trình học. Nhưng với những thiết bị hiện đại như máy ảnh số, điện thoại có chức năng chụp ảnh... nguy cơ luôn rình rập những người làm mẫu, nhất là nếu có sự tiếp tay của mạng Internet. Cách đây không lâu, tại một trường mỹ thuật, giảng viên đã tìm thấy ảnh mẫu bị vô ý vứt trên lớp học. Một số sinh viên do chưa kịp trả bài trên lớp nên đã lén chụp ảnh mẫu để về nhà vẽ tiếp. Họ in ảnh ra rồi bất cẩn đánh rơi. Chuyện chưa có gì nghiêm trọng nhưng lãnh đạo trường đã phải họp và thắt chặt kỷ luật hơn nhằm bảo vệ cho người mẫu.

Hà Linh

Ý kiến của bạn?
Theo dòng sự kiện:
Tái bản sách ảnh nude 'Xuân thì' (08/01/2008)
Triển lãm ảnh nude bị hoãn lần thứ hai (28/12/2007)
Phát hành sách ảnh nude của Thái Phiên (24/12/2007)
Spencer Tunick - nhà nhiếp ảnh mê chụp nude tập thể (16/12/2007)
Nghệ thuật nude đón đợi cảm nhận bình thường hoá (03/11/2007)
Xem tiếp

Các tin khác

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2008



pinku vừa mới trào đời